Bản xem trước · Phiên bản đầy đủ ra mắt ngày 27/11/2026 tại AI Forum, VinUni
steakpediaTài liệu tham khảo về bít tếtVIENES

Đọc bằng: EnglishEspañol

Trang chủ›Nấu ăn›Goulash

Món canh, súp · Hungary, món súp

Goulash

Goulash (tiếng Hungary: gulyás) là món bò nêm hành tây và ớt bột paprika; ở Hungary nó là một món súp, mang tên những người chăn bò trên đồng bằng. Phần thịt kinh điển là bắp bò, vì collagen làm nước dùng sánh lại; món hầm sệt mà thế giới gọi là goulash thì gần với pörkölt hơn.

Còn gọi là: Gulash · Súp bò goulash · Gulyás, gulyásleves · GulaschCập nhật lần cuối 22 thg 10, 20263 nguồn

Tóm tắt

Xuất xứ
Hungary, người chăn bò trên đồng bằng
Tên gọi
Gulyás = người chăn bò
Phần thịt
Bắp hoặc nạc vai
Gia vị chính
Ớt bột ngọt Hungary, hạt caraway
Khẩu phần
6 người
Thời gian
40 phút chuẩn bị, tổng 2½ giờ
Goulash
Ảnh: Adobe Stock #399090299

Ở Hungary là súp, ra nước ngoài là món hầm

Ở Hungary, gulyás hay gulyásleves (súp goulash) là món nhiều nước, gồm thịt bò cắt khối, hành tây phi trong mỡ lợn, ớt bột paprika ngọt và hạt caraway (một loại hạt thơm họ thì là), có khoai tây, rau củ và thường có những viên bột nhỏ véo bằng tay gọi là csipetke. Món này ăn bằng thìa trong bát sâu.

Món hầm sệt như sốt mà nhiều nơi trên thế giới gọi là goulash thực ra tương ứng với pörkölt của Hungary: thịt om với rất nhiều hành và paprika trong rất ít nước, ăn kèm nokedli (bánh bột nhỏ luộc). Thêm kem chua thì thành paprikás; thái thịt thành sợi thì gọi là tokány. Phần thịt dùng cho tất cả các món này là như nhau: bắp bò (lábszár), có nhiều collagen làm nước dùng sánh, hoặc nạc vai và thịt bả vai ở phần trước con bò.

Mang tên người chăn bò, paprika đến sau

Từ gulyás nghĩa là người chăn bò (gulya là đàn bò). Trên Đại bình nguyên Hungary, những người chăn bò nấu thịt với hành trong một chiếc vạc (bogrács) trên lửa trại; thịt nấu chín rồi phơi khô còn có thể mang theo và nấu lại với nước. Vì thế món ăn đầu tiên được gọi theo tên người nấu: gulyáshús, "thịt của người chăn bò".

Paprika đến sau. Cây ớt từ châu Mỹ tới Hungary, có lẽ qua thế giới Ottoman, vào thế kỷ 16–17, nhưng ớt bột chỉ phổ biến trong bếp từ cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19. Sang thế kỷ 19, goulash được chọn làm biểu tượng dân tộc, đối lập với món ăn Đức và Pháp của triều đình Habsburg, và đi từ đồng bằng vào nhà hàng thành phố. Cuốn The Cuisine of Hungary (1971) của George Lang kể lại lịch sử này và nhấn mạnh sự khác biệt giữa gulyás và pörkölt.

Nguyên liệu

Nguyên liệuLượngGhi chú
Bắp bò hoặc nạc vai800 g / 1,75 lbcắt khối 2 cm / ¾ in
Mỡ lợn hoặc dầu ăn2 thìa canh / 30 gmỡ lợn là truyền thống
Hành tây2 củ, khoảng 300 g / 10 ozbăm nhỏ
Ớt bột paprika ngọt Hungary2 thìa canh / 15 gloại mới; thêm chút paprika cay tùy thích
Hạt caraway1 thìa cà phêgiã dập
Tỏi2 tépđập dập
Cà chua1 quả, khoảng 120 g / 4 ozthái nhỏ
Ớt xanh Hungary (ớt chuông xanh nhạt)1 quảthái lát
Cà rốt và củ mùi tây (hoặc củ cải vàng parsnip)mỗi loại 1 củ, khoảng 100 g / 3½ ozthái hạt lựu
Khoai tây500 g / 1,1 lbthái hạt lựu
Nước lọc hoặc nước dùng nhạt2 L / 8 cốc
Csipetke: bột mì và trứng100 g / ¾ cốc bột, 1 quả trứng, chút muốinhồi thành bột cứng
Muốitùy khẩu vị

Cách làm

  1. Đun chảy mỡ trong nồi dày, phi hành tây ở lửa vừa đến khi mềm và vàng, khoảng 10 phút.
  2. Cho thịt vào, đảo đến khi mọi mặt hết màu đỏ sống, khoảng 5 phút.
  3. Nhấc nồi khỏi bếp rồi mới cho paprika vào khuấy: trong mỡ nóng, ớt bột cháy chỉ trong vài giây và trở nên đắng. Cho ngay caraway, tỏi và một chút nước.
  4. Đặt lại lên lửa nhỏ, đậy nắp, để thịt tự om trong nước của nó 30–40 phút, thêm chút nước mỗi khi cạn.
  5. Cho cà chua, ớt xanh, cà rốt, củ mùi tây và nước hoặc nước dùng vào. Đun liu riu, hé nắp, khoảng 1 giờ, đến khi thịt gần mềm.
  6. Trong lúc đó, nhồi bột mì, trứng và muối thành khối bột cứng, véo thành những viên nhỏ cỡ hạt đậu để làm csipetke.
  7. Cho khoai tây vào, đun 15–20 phút; thả csipetke vào trong 5 phút cuối. Nêm lại muối: súp phải lỏng, đỏ đậm và hơi bóng mỡ.

Bogrács, Saftgulasch, Fiakergulasch

Người Hungary phân biệt bográcsgulyás, nấu ngoài trời bằng vạc trên lửa củi, với bản nấu trong bếp. Những món họ hàng gần gồm babgulyás có đậu, và székelygulyás, thường làm bằng thịt lợn, với dưa cải bắp muối và kem chua. Ở Áo, Gulasch (Saftgulasch kiểu Vienna) là món hầm theo kiểu pörkölt với rất nhiều hành, hoàn thiện bằng chút giấm và lá kinh giới; Fiakergulasch, đặt theo tên những người đánh xe ngựa ở Vienna, có thêm trứng ốp, xúc xích và dưa chuột bao tử muối. Ở Đức, Gulasch thường là món hầm làm sánh bằng bột mì, ăn với bánh bột hấp hoặc mì, còn Gulaschsuppe là món quen thuộc ở quán bia và nhà nghỉ trượt tuyết. Món guláš của Séc, ăn với bánh mì hấp, là một phiên bản sệt khác.

Thật nóng, với bánh mì và ớt cay

Gulyás được dọn thật nóng trong bát sâu, kèm bánh mì, và ai thích thì thêm ớt tươi cay hoặc một thìa tương ớt paprika cay bên cạnh. Kem chua không phải là thành phần truyền thống của gulyás. Lỗi thường gặp: làm cháy paprika khiến cả nồi đắng; dùng ớt bột cũ đã mất màu và mùi; dùng thịt nạc dễ khô; làm sánh súp bằng bột mì, biến nó thành món khác; và cho khoai tây vào quá sớm nên bị nát.

Câu hỏi thường gặp

Goulash là súp hay món hầm?

Ở Hungary, gulyás là súp. Món hầm sệt đậm paprika mà nơi khác gọi là goulash thì gần với pörkölt của Hungary hơn.

Goulash và pörkölt khác nhau thế nào?

Gulyás nhiều nước, có khoai tây và rau củ; pörkölt là thịt om với hành và paprika trong rất ít nước.

Gulyás nghĩa là gì?

Nghĩa là người chăn bò; món ăn mang tên những người chăn bò trên đồng bằng Hungary, những người nấu nó trong vạc.

Goulash có luôn có paprika không?

Không. Paprika chỉ phổ biến trong bếp Hungary từ cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19; trước đó thịt của người chăn bò chủ yếu nêm bằng hành và muối.

Nguồn

3
  1. Larousse Gastronomique, rev. ed. London: Hamlyn, 2009.
  2. Lang, George. The Cuisine of Hungary. New York: Atheneum, 1971.
  3. Davidson, Alan. The Oxford Companion to Food. Oxford: Oxford University Press, 1999.

Liên quan